Archive for the Con đường tơ lụa Category

Con đường tơ lụa (5)

Posted in Con đường tơ lụa with tags on February 13, 2008 by kwojs

Con đường tơ lụa (phần 5)

Ảnh từ
Lạc đà đi giữa lườn núi cát Minh Sa sắc nhọn tựa lưỡi dao. Ảnh: từ Tuổi Trẻ.

Cách Đôn Hoàng 5km về phía nam, địa danh Minh Sa Sơn có thể khiến mọi người nghĩ ngay đến núi. Thật ra, Minh Sa Sơn gồm hai vùng: một khu vực đá bao gồm hệ thống hang động Mạc Cao và một vùng núi cát còn có tên gọi khác là Thần Sa Sơn, Sa Giác Sơn, tất cả chỉ là cát.
> Phần 4

Cát nhấp nhô như rồng núi cuộn mình, nằm ngoằn ngoèo hơn 40km. Đỉnh cát cao 250m, hiểm trở, lườn cát sắc nhọn tựa lưỡi dao sáng dưới nắng vàng óng ánh. Mà cũng có thể gọi là biển, vì khi đã bước chân vào đây, bạn sẽ thấy mình ngập chìm trong mênh mông cát, không rõ từ đâu về đâu.

Một tảng đá to khắc ba chữ Minh Sa Sơn báo hiệu lối vào sa mạc. Vé vào sa mạc có giá 120 tệ, và phải thuê một đôi ủng vải màu cam sặc sỡ với giá 10 tệ để có thể đi lại trên cát. Người ta bán đủ những thứ bạn cần cho một cuộc hành trình vào nơi gió cát: nón, kính mát, nước suối. Một lời dặn đáng sợ của hướng dẫn viên trước lúc khởi hành: đừng để rơi bất cứ thứ gì xuống cát, cát sẽ nuốt mất ngay, không bao giờ tìm lại được! Cánh đàn ông mọi quốc tịch nghe đến mấy chữ “không bao giờ tìm được” là nghĩ ngay đến vợ ở nhà!

Vào sa mạc tất nhiên phải thuê lạc đà, 60 tệ một con, mỗi con đều có bảng số riêng, và đi thành tốp do một người dẫn đường, họ thường đi bộ.Yên lạc đà là một tấm thảm dày, đặt giữa hai bướu, có hai thanh gỗ dài nẹp hai bên, lại có bàn đạp để chân, có vòng sắt để làm tay cầm. Lên xuống lạc đà cũng là một kỳ công. Vì những “con thuyền sa mạc” này đứng lên, nằm xuống bao giờ cũng theo ba nhịp: khuỵu gối trước, hạ chân sau, hạ chân trước (và ngược lại, nếu đứng lên) khiến người trên yên cũng phải ba lần “sấp ngửa” chúi về trước, lại ngã về sau, rồi lại lao về trước.

Chúng tôi nối nhau tiến vào sa mạc như những đoàn thương buôn năm xưa trên đường vạn lý. Cảnh tượng thật hùng vĩ, lãng mạn và thơ mộng giữa vô hạn nắng và cát. Tôi thật biết ơn tiếng chuông lạc đà, như khúc nhạc của người bạn đường chung thủy. Mọi âm thanh giữa biển cát đều mất hút theo gió, duy chỉ có tiếng chuông vang vang ấy là giữ được trong lòng sự bình yên trước nỗi cô đơn sợ hãi của phận người như một hạt cát giữa vô cùng thời gian.

Đi vào biển cát, chúng tôi như lạc vào thế giới của sắc độ sáng tối, mà hóa công là nghệ sĩ nhiếp ảnh bậc thầy. Có lớp lớp đụn cát như dãy nón bài thơ úp trên bãi biển, có dáng núi như bộ ngực, bờ lưng người phụ nữ ta chưa từng được gặp. Gió mài cát thành thấu kính lõm phẳng như tuyệt đối để gọi ta đến gần. Nhưng khi ta đến nơi, gió đã vẽ lên cát những muôn vàn hoa sóng. Có đoạn, gió khắc cát thành nham thạch. Có đoạn, cát chảy trên cát thành dòng, như họa tiết của đá trên đá. Có đoạn, hai bên trên dưới đều là những taluy cát dốc cao tối sẫm, chỉ có lối đi ở giữa, vừa đủ bước chân lạc đà… Và gió lạnh khiến ta cũng quên mình đang bị nhuộm nắng.

Có lúc chúng tôi tạm rời lạc đà để leo lên núi cát. Dốc cát khó leo, bước chân như bị hút sâu xuống, như bị kéo lùi ra sau theo dòng cát trôi xuôi. Dấu chân mình sớm muộn gì cũng bị biến mất như chưa hề xuất hiện. Và cảm giác một thân một mình không biết bám víu vào đâu khiến ta thấy mình nhỏ nhoi hơn bao giờ hết. Nhưng gió chờ trên đỉnh cao chiêu đãi mọi người niềm vui chinh phục. Trên ấy có đủ các trò chơi cho những ai muốn tìm cảm giác lao mình xuống: tàu lượn trên không, môtô trượt cát, phao trượt cát. Rồi chúng tôi cũng lao theo máng tre trượt cát để thử một lần nghe gió hát sau lưng.

Ảnh:
Hồ Nguyệt Nha giữa biển cát. Bên hồ có các công trình kiến trúc nhà Thanh như chùa Minh Sơn, cung Tam Thanh, miếu Dược Vương. Ảnh: Lê Na / Tuổi Trẻ.

Minh Sa có nghĩa là cát kêu. Cát nơi đây hình hạt gạo, sắc vàng. Vào ngày nắng đẹp, gió cát vang lên âm thanh như tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng trống rất lạ tai. Vào ban đêm, có lúc gió nổi, cát bay chạm vào nhau thành những đốm hoa lửa rất lạ mắt. Ngạc nhiên hơn nữa, giữa sa mạc cát lại có một hồ nước trong xanh, bốn mùa không cạn, dáng như ánh trăng lưỡi liềm, được gọi là Nguyệt Nha Tuyền.

Điều chưa thể giải thích nổi là ngàn năm qua, núi cát vẫn không thay hình đổi dạng, và dù bão cát đến thế nào vẫn không vùi lấp được hồ Nguyệt Nha. Cát bay xong vẫn trở về chốn cũ. Hiện tượng cát kêu, hoa lửa và gió vòng kỳ bí cùng với hang động Mạc Cao kỳ vĩ đã biến Đôn Hoàng cổ đại thành miền đất Phật linh thiêng, nhất định ai ai đến đây cũng phải ghé qua, như cuộc hành hương về đất thánh.

Chúng tôi kết thúc một ngày khó quên nơi vùng sa mạc bằng bữa tiệc thịt dê tại Dương Gia Kiều thôn, trong căn nhà khang trang của lão tiên sinh Trương Hóa Quân. Ông tự xưng là nông dân, nhưng nhà lại có thư phòng, trong thư phòng có bút mực và nghiên giấy và đã có một cuộc đàm đạo về thư pháp giữa ông Trương và anh Lữ Trung Đạt, giám đốc Công ty giấy Lệ Hoa, thành viên trong đoàn. Trong cơn vui và say chữ nghĩa, chúng tôi bước vào bữa tiệc với dê quay nguyên con trong hầm lò đốt bằng củi gỗ cây táo dựng sau vườn nhà ông Trương.

Theo đúng tục lệ ở đây, khi đầu dê quay tròn mấy vòng rồi dừng lại trước đôi vợ chồng doanh nhân trẻ mới cưới Quang Thuận – Quỳnh Trâm, chúng tôi sung sướng với dịp may hiếm có, được chúc phúc bằng ly rượu cao lương (cũng cất ngay trong vườn nhà họ Trương) cho hai bạn mình đang hưởng tuần trăng mật với hành trình xuyên Tây Bắc Trung Hoa.

(Theo Tuổi Trẻ

Con đường tơ lụa (4)

Posted in Con đường tơ lụa with tags on February 13, 2008 by kwojs

Con đường tơ lụa (phần 4)

Một góc chuỗi hang động Mạc Cao. Ảnh: D.Trường / Tuổi Trẻ.

Đôn Hoàng nằm ở vùng “ngã ba” Cam Túc giáp Tân Cương và Thanh Hải. Trong khi thủ phủ Lan Châu chỉ có máy bay nội địa thì Đôn Hoàng đã có sân bay quốc tế, đón khách năm châu đến với di sản thế giới hang động Mạc Cao nhộn nhịp bốn mùa.
> Phần 3

Đặc biệt ưa thích Đôn Hoàng có thể nói là du khách Nhật. Có người năm nào cũng đến, mỗi lần đến ở cả tuần và vào thăm hang động Mạc Cao 5-6 lần. Người Nhật bỏ tiền cùng với Trung Quốc làm phim về Đôn Hoàng. Cần nói ngay là khi các bạn đến đây, thấy trong các tour du lịch có quảng cáo địa điểm “Đôn Hoàng cổ thành” thì xin nhớ ngay cho đó chỉ là thành giả cổ, là phim trường dựng lại (vào năm 1987) với diện tích chỉ bằng phân nửa thực tế, để quay bộ phim trên. Nay đã mở cửa đón khách để mọi người hình dung cảnh cũ và mua vui bằng cách cưỡi ngựa, bắn cung, hay hóa trang làm vua, làm tướng, làm hoàng hậu, cung phi… của một thời đã xa.

Linh hồn của Đôn Hoàng là chuỗi hang động Mạc Cao cách trung tâm thành phố khoảng 30km chạy ven sa mạc. Đó là một quần thể hàng ngàn hang động do không biết bao nhiêu con nguời đục khắc vào sườn núi đá dài khoảng 1.600m suốt hơn ngàn năm, qua 10 triều đại (từ Đông Tấn, Bắc Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường, Ngũ Đại đến Tống, Tây Hạ, Nguyên Mông). Chỉ riêng thời nhà Đường đã có hơn ngàn hang động.

Tất cả đều để chiêm bái, thờ cúng Phật tổ và các vị bồ tát, cũng là để gửi gắm lời cầu mong được về với Phật sau khi rời khỏi trần đời. Có người góp của hay đi quyên tiền. Có người tự nguyện đục đá, tạc tượng suốt mấy năm. Có khi một người đào một hang, có khi cả gia đình, cả dòng họ cùng làm một động. Có hang cao hơn 40m, có hang chỉ chừng 1m.

Thời gian đã bào mòn, vùi lấp vô số, đến nay còn 492 hang động đã được đánh dấu, bảo quản và nghiên cứu. Nhưng chỉ với số hang động còn lại cũng đủ làm du khách sửng sốt, kinh ngạc trước sức sáng tạo của người xưa.

Cổng vào chuỗi hang động có tên là “Thạch thất bảo thành” với con đường rợp bóng cây. Mọi máy quay phim, máy chụp ảnh đều phải gửi ở bên ngoài. Những dãy hành lang có lan can được dựng cặp theo sườn núi, dẫn lối đi thăm hệ thống các hang động vốn được người xưa xây dựng san sát bên nhau, có chỗ dày đặc chồng chất trên dưới đến năm tầng. Mỗi hang động đều được đánh số, có bảng “lý lịch” kèm theo rất công phu (xây dựng đời nào, trùng tu đời nào, đặc điểm văn hóa, nghệ thuật…) và có cửa khóa chặt! Các cô hướng dẫn viên ở đây mặt tươi như ngọc, da trắng như tuyết, giọng nói to rõ và ngọt như dưa lê.

Mỗi cô tay cầm đèn pin và một xâu chìa khóa, mở cửa và thuyết minh riêng cho tốp khách do mình dẫn đường. Giá vé 160 tệ, du khách được tham quan mười điểm trong khoảng bốn giờ, trong đó có năm hang động bắt buộc và năm điểm tự chọn hay thỏa thuận theo gợi ý của hướng dẫn viên. Trong ánh sáng mờ tối hòa với ánh đèn pin và giọng thuyết minh lung linh, một thế giới nghệ thuật mang sức nặng tâm linh giữa lòng đá núi kỳ vĩ hiện ra thật ấn tượng.

Ảnh:
Cửu tầng lầu nhìn từ bên ngoài, bên trong là tượng Phật Di Lặc cao 35,5m. Ảnh: từ Tuổi Trẻ.

Năm 366, khi hòa thượng Nhạc Tôn (có tài liệu ghi là Lạc Tăng) đi qua sa mạc Minh Sa lúc trời chiều, chợt thấy nơi dãy núi đá Tam Nguy phát ra ánh sáng rực rỡ như muôn nghìn Phật hiện lên giữa lấp lánh kim quang, liền chọn nơi đây làm nơi dừng chân, phát nguyện đào tạc động đá thành nơi tu hành.

Sau đó, có hòa thượng Pháp Lương khai mở hang động thứ hai. Không ai ngờ rằng ốc đảo xanh tươi nhỏ nhoi giữa biển cát mênh mông này dần dần trở thành thánh địa, ánh đèn thờ Phật lấp lánh, khói lam lòng thành lan tỏa ngày đêm và động đá cứ ngày một nhiều lên. Các nhà truyền bá Phật giáo vượt qua sa mạc hàng tháng trời trong nắng gió vất vả và hiểm nguy đều dừng chân nơi đây nghỉ ngơi và hành đạo.

Các đoàn thương lữ trước khi xuất quan cũng dừng lại nơi này chuẩn bị lương thực thực phẩm cho một chuyến đi xa, đồng thời để dâng hương lễ Phật, cúng dường, cầu mong bình an, tài vượng. Còn các thương khách khi trở về vô sự cũng ghé qua đây cảm tạ Phật tổ, bồ tát độ trì. Cơ duyên hội tụ đã biến Mạc Cao thành “Thiên Phật động” vang danh ngàn dặm.

1.600 năm đã qua. 492 hang động, hơn 3.000 bức với khoảng 4,5 vạn m2 bích họa, hơn 2.000 pho tượng Phật, hơn 4 vạn văn thư, văn vật và năm tòa kiến trúc gỗ còn giữ lại được đến hôm nay đã khiến Mạc Cao, Đôn Hoàng trở thành một “cung văn hóa nghệ thuật” khổng lồ. Vừa đồ sộ, hoành tráng, vừa tinh vi, tỉ mỉ đến từng chi tiết. Đó là “bộ bách khoa thư” về lịch sử, văn hóa của Phật giáo cổ đại với mỹ thuật (bích họa, phù điêu, tượng màu), kiến trúc (hang động, gỗ đá) và vũ nhạc (trên bích họa và kinh sách). Để chiêm ngưỡng cho hết, cần một phần đời! Để thấu hiểu cho sâu, cần nhiều đời người!

Rời hang động Mạc Cao, tôi chợt nhận ra ngay sức nhìn, sức nghe, sức cảm và sự hiểu biết của chính mình hạn hữu biết chừng nào!

 5 hang động giới thiệu với khách tham quan

* Tàng kinh lầu, rộng chỉ 19m2, năm 1.900 phát hiện trong hang này chứa hơn 5 vạn kinh sách, văn thư, tranh lụa, đồ thờ cúng.

* Kim bích động, thời nhà Đường, với các bức bích họa được tô bột vàng, dát vàng lá, thể hiện văn hóa Tây Vực.

* Cửu tầng lầu, tượng Phật Di Lặc khắc vào vách núi, cao 35,5m, bên ngoài có tháp bao bọc, cao chín tầng, nghệ thuật thời Đường.

Tượng Phật Di Lặc, cao 26m, đục hẳn trong núi, nền sâu dưới mặt đất 10m để ngắm từ dưới lên, hai bàn tay Phật được điêu khắc đẹp mệnh danh là “Đông phương đệ nhất mỹ thủ”.

* Tượng Phật tổ nằm, động đục âm vào đá theo hình dáng quan tài, tượng Phật tổ tư thế nằm, đầu hướng nam, chân hướng bắc, chiều dài 15m, chung quanh là các bích họa kể chuyện đức Phật nhập Niết bàn. 

Con đường tơ lụa (3)

Posted in Con đường tơ lụa with tags on February 13, 2008 by kwojs

Con đường tơ lụa (phần 3)

Gia Dụ Quan. Ảnh: Lê Na / Tuổi Trẻ.

Con đường tơ lụa là nơi chạm mặt kỳ thú giữa các nền văn minh cổ đại, nhưng cũng đẫm máu chiến tranh, xung đột, cướp bóc. Số phận con đường này luôn gắn liền với ước vọng hòa bình và dãy trường thành chạy dài theo dòng lịch sử.
> Phần 1 / Phần 2

5h sáng, tàu dừng tại nhà ga Gia Dụ Quan sau 18 giờ đi kể từ Tây An. Thành phố này nổi tiếng nhờ mang tên cửa ải Gia Dụ Quan, nhưng lại “sống” bằng gang thép, phát triển theo công thức “đại xí nghiệp, tiểu thành thị”.

Hướng dẫn viên cho biết có đến 70% người dân thành phố làm việc tại Công ty gang thép Tửu Tuyền – cơ sở lớn nhất vùng tây bắc Trung Quốc. Những con đường nơi đây rộng thoáng, yên tĩnh, sạch sẽ, và đẹp như lụa mềm nhờ những hàng cây đang vào thu. Mỗi con đường một loại cây, liễu xanh, quốc hoài vàng, bạch dương có xanh có trắng.

Gia Dụ Quan là cửa ải cực Tây, kiểm soát con đường ra vào Tây Vực, được quan quân nhà Minh xây dựng theo tuyến bắc nam. Phía bắc là Huyền Bích trường thành dài 8,6 km chạy đến Hắc Sơn, phía nam là Minh Tường trường thành dài 7,6 km, dẫn đến vực sâu do dòng sông băng Thảo Lại Hà làm thành một hào lũy tự nhiên. Tâm điểm là thành Gia Dụ Quan, vừa là cửa ải vừa là đồn binh.

Khi chúng tôi đến thăm Huyền Bích, những chiếc lá bạch dương gieo sắc thu lên một góc trường thành vắng lặng. Một đôi tình nhân nắm tay nhau đi lên hướng Hắc Sơn, trên đó, bên vách núi đá đen còn giữ lại giữa trời nhiều hình trái tim khắc lồng với những lời thề hẹn yêu thương.

Người ta dựng cái cổng kiểu quan ải, đặt tên là Thủy Môn. Mở một đoạn trường thành chừng hơn hai cây số chạy lên đỉnh núi cho du khách có cơ hội in bóng mình lên bóng trường thành và phóng tầm mắt nhìn ra sa mạc mênh mông. Lại mở ra một lối đi bằng bậc đá để du khách rời trường thành từ trên cao vòng xuống chân núi, đến với quảng trường mang tên “Tơ lụa cổ đạo”.

Một quần thể tượng đài để nhắc nhớ tên tuổi những nhân vật lịch sử đã từng qua đây: dẫn đầu là Trương Khiên, rồi Hoắc Khứ Bệnh, Ban Siêu (thời Tây Hán), Đường Huyền Trang, Marco Polo, đến Lâm Tắc Từ, Tả Tống Đường (nhà Thanh). Nếu Huyền Bích dẫn lên núi cao thì dãy Minh Tường lại chạy ngang qua vùng đất bằng, đã bị thời gian làm hoang phế. Mọi người chen nhau chụp ảnh bên bia đá khắc mấy chữ “Vạn lý trường thành đệ nhất đôn” với một phong hỏa đài đổ nát còn sót lại. Đây là đoạn thứ nhất, đầu mút của Minh Tường trường thành. Một địa đạo dẫn du khách đi ra một “ban công” để nhìn rõ vực sâu của sông băng Thảo Lại Hà mùa này đã thành dòng nước chảy xiết, và dãy núi tuyết Kỳ Liên nơi xa đang phơi mình trong nắng thu.

Chúng tôi có cả một buổi sáng để một lần làm thương khách đời xưa, “xuất cảnh” qua biên ải. Nói là cửa ải, nhưng Gia Dụ Quan thực là một thành lũy, gồm nhiều lớp thành vững chắc kiên cố, uy nghiêm soi bóng lên sa mạc, nhất là lúc trời chiều, khi mặt trời cũng “xuất quan” về hướng tây, quả xứng danh “Thiên hạ hùng quan”. Trong thành có quan đạo lát gạch dành cho quan, có dân đạo nền đất là lối đi riêng của dân chúng và thương buôn; có mã đạo, đường dốc xếp đá cho ngựa chạy lên mặt thành khi chiến đấu. Lại có điện thờ Quan Công với thanh long đao và ngựa Xích thố, và một rạp hát mini.

Chúng tôi đi qua thành theo chiều đông tây. Cửa đông có tên Quang Hóa Môn dẫn vào trung tâm thành. Tường cao, âm thanh có thể dội đá thành tiếng vọng bay lên mặt thành. Thành có địch lâu, tiễn lâu, đài quan sát. Phủ tướng quân nằm gần mé tây, với tên của 18 vị tướng đã trấn nhậm nơi này. Cửa tây có tên Nhu Viễn Môn, đóng mở theo lịch của mặt trời mỗi ngày. Con đường xuất quan rộng chừng 3m, lát những phiến đá rộng, oằn mình ghi lại vết lõm của thời gian trên dấu xưa. Con đường ấy dẫn ra sa mạc sáng lóa, không bến không bờ.

Huyền Bích trường thành chạy dài lên đỉnh Hắc Sơn, thành phố Gia Dụ Quan (Cam Túc). Ảnh: Lê Na / Tuổi Trẻ.

Đã có Gia Dụ Quan sao còn có Ngọc Môn Quan? Ấy là vì Trung Hoa thời Hán Đường cương vực mở rộng về phía tây, đến tận vùng Đôn Hoàng. Và ngoài Ngọc Môn Quan còn có Dương Quan. Khi đến đây, du khách sẽ có dịp đi dọc những đoạn trường thành thời nhà Hán tuy đã thành phế tích nhưng vẫn còn lặng lẽ góp mặt cùng sương gió, chứng kiến thế sự hơn 2.000 năm qua.

Ngọc Môn Quan bây giờ đã là phế tích, nằm chơ vơ trên đồi nắng, làm bạn với gió và những bụi cỏ có tên “cỏ gai lạc đà” vì chỉ có lạc đà mới có thể nhấm nháp được chúng mà thôi. Bên kia đồi là một hồ nước trắng bạc một màu sương tuyết, xa xa là trập trùng núi.

Anh hướng dẫn viên họ Dương đứng trên đồi đọc bằng tiếng Hoa bài thơ Lương Châu từ (có sách gọi là Xuất tái) của Vương Chi Hoán: “Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian/ Nhất phiến cô thành vạn nhận san/ Khương địch hà tu oán dương liễu/ Xuân phong bất độ Ngọc Môn quan” (Hoàng Hà treo ngọn giữa mây xanh/ Vạn bậc non cao một mảnh thành/ Sáo rợ buồn chi lời chiết liễu/ Gió xuân chẳng vượt Ngọc Môn Quan – Nguyễn Hiến Lê dịch thơ).

Giọng anh rất hùng hồn, mạnh mẽ, dứt khoát, nhưng gió hoang mạc đã bóp méo nó thành một âm điệu buồn thương không thể tả được. Người xưa khi chia tay thường bẻ cành liễu (chiết liễu) để lưu luyến ly biệt. Người lính nơi biên ải nghe tiếng sáo, lòng càng buồn đau nỗi xa nhà, chốn biên quan cô quạnh, gió xuân không đến được nơi này.

Có lẽ buồn nhất nơi đây là vào những đêm trăng? Mênh mông chỉ là tiếng gió, gió khóc, gió nấc, gió sụt sùi cho nỗi niềm ly hương của người lính cô đơn giữa trăng lạnh? Lại nhớ đến hai câu thơ của Lý Bạch khi “kể chuyện” Vương Chiêu Quân cống Hồ: “Nhất thướng Ngọc quan đạo/ Thiên nhai khứ bất qui”. (Một khi đã bước lên cửa ải Ngọc Môn là đi mãi về phía chân trời không trở lại. Người ơi, có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau chia xa, mịt mù ngày về đoàn tụ).

Con đường tơ lụa (2)

Posted in Con đường tơ lụa with tags on February 13, 2008 by kwojs

Con đường tơ lụa (phần 2)

Phù điêu tượng đồng “Mã đạp phi yến” trên lối đi chính của công viên Tửu Tuyền. Ảnh: Lê Quang / Tuổi Trẻ.

Từ nhà ga Tây An ồn ào, náo nhiệt, chuyến tàu K591 đưa chúng tôi đi vào dải đất yết hầu nối liền Trung nguyên với Tây vực, mang tên hành lang Hà Tây (hay còn gọi là hành lang Cam Túc).
> Phần 1

Bữa trưa trên toa nhà ăn tiện nghi và lịch sự là một đĩa thịt bò xào với khoai tây nấu theo kiểu vùng cao, giá 25 tệ (2.200 đồng/tệ), lạ miệng nên khó ăn. Nhưng đổi lại, được chiêu đãi một bữa tiệc phong cảnh Đại Tây Bắc hùng vĩ qua cửa kính tàu lửa.

Lúc này, trời trưa sáng nắng nhưng nhiệt độ bên ngoài chỉ hơn 10OC. Đường đèo quanh co chạy theo những taluy đá khổng lồ hoặc băng qua những chiếc cầu bêtông cao ngất. Có lúc tàu xuyên núi liên tục, chỉ vài phút lại hầm nối hầm. Nhà cửa hiếm thấy, trừ vài thị trấn nhỏ với những chung cư hình hộp đơn giản, cũ kỹ, hoặc những căn nhà gạch nâu, mái ngói thấp và những đụn cỏ chất cao ngang mái nhà. Ngạc nhiên khi thấy trên sườn núi những gian nhà đục âm vào đá, trần hình vòm, hỏi ra mới biết đó là dãy nhà kho chứa hàng hóa, lương thực.

Ấn tượng hơn là rất nhiều công trình mở đường, dựng cầu, khai khoáng, truyền tải điện… ngổn ngang gạch đá, loang loáng sắt thép giữa núi đồi hoang vắng, tỏ rõ quyết tâm “đại khai phá miền Tây” của người Trung Quốc.

Hành lang Hà Tây là một dải đất hẹp và dài khoảng 1.200km, rộng chừng 100km, được người xưa mô tả như thơ: “Bắc thông sa mạc, Nam vọng Kỳ Liên, Đông nghinh Hoa Nhạc, Tây đạt Y Ngô” Nghĩa là nó bắt đầu từ Hoa Sơn, phía đông thành phố Tây An (Thiểm Tây), chạy dọc theo suốt tỉnh Cam Túc đến tận Y Ngô (tức Hợp Mật, tỉnh Tân Cương) theo hướng đông nam – tây bắc.

Đi giữa một bên (phía bắc) nhìn ra mênh mông biển cát, với các sa mạc Tenggeli, Badain Jaran thuộc hệ thống sa mạc Gobi thông ra Nội Mông; với một bên (phía nam) là dãy núi tuyết Kỳ Liên Sơn chạy dài như bất tận. Xem ra chính thiên nhiên đã mở sẵn một lối đi cho con đường tơ lụa chọn lấy mà nên dạng nên hình.

Khi tàu dừng tại nhà ga Lan Châu, chúng tôi có đúng 10 phút đặt mấy bước chân mình lên thủ phủ của Cam Túc trong cái rét thở ra khói để kỷ niệm một lần qua đây! Tiếc là vì trời tối nên chúng tôi không chứng kiến được giây phút vượt qua Hoàng Hà, con sông khởi nguyên của nền văn hóa Trung Hoa.

Lý Bạch trong bài thơ ngũ ngôn “Tái hạ khúc” (Khúc hát dưới quan ải, gồm sáu khúc) đã dành hẳn một khúc để ca ngợi Hoắc Khứ Bệnh, một danh tướng thời Tây Hán: “Ngựa bay như gió vút/ Quất roi rời Vị kiều/ Giương cung biệt trăng Hán/ Tên cứng nhắm giặc liều/ Trận xong sao trời tắt/ Doanh vắng khói sương veo/ Gác lân ghi hình tích/ Là quan Hoắc Phiêu Diêu” (Ngô Văn Phú dịch).

Công tích và tên tuổi Hoắc Phiêu Kỵ đại tướng quân gắn liền với hành lang Hà Tây. Ông nhiều lần cầm quân qua đây chiến đấu chống giặc Hung Nô, lập đại chiến công, khiến “Hung Nô phải chạy trốn xa, toàn vùng nam sa mạc không còn vương triều”, một thời kỳ dài loại bỏ nạn can qua cho vùng đất này. Khi ông mất (lúc chỉ mới 24 tuổi), Hán Vũ Đế cho xây lăng mộ ông theo kiến trúc giống như dãy núi Kỳ Liên.

Nơi đây lưu dấu Hoắc Khứ Bệnh bằng một địa danh: Tửu Tuyền. Chúng tôi thuê một chuyến xe để tìm về thành phố Tửu Tuyền. Khi xe đi ngang vòng xoay trung tâm, chúng tôi đành tiếc rẻ chỉ nhìn từ xa “Tửu Tuyền chung cổ lầu”, vì lúc này cái tháp chuông trống nổi tiếng ấy đang phải rào chắn lại để trùng tu. Đổi lại, chúng tôi có thêm thời gian để thăm thú công viên “Tây Hán Tửu Tuyền thắng tích”.

Trên trục đường chính của công viên, dưới chân du khách là bức phù điêu đắp nổi thể hiện tượng đồng nổi tiếng “Mã đạp phi yến”, được xem là đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc cổ đại, đã đưa vào sách Trung Quốc nhất tuyệt. Tượng được tìm thấy năm 1976 trong một ngôi mộ cổ ở Võ Uy (Cam Túc), còn chúng tôi sau đó tìm thấy nó ở khắp nơi với nhiều kích cỡ, giá cả, chất liệu khác nhau tại đủ loại tiệm, sạp, quầy bán đồ lưu niệm tại Cam Túc!

Tượng đài Hoắc Khứ Bệnh hòa nước suối cùng binh lính uống rượu vua ban, tại công viên Tửu Tuyền. Ảnh: D.Trường / Tuổi Trẻ.

Linh hồn cùa công viên này là dòng suối ngọt chảy ra một giếng mang tên Tửu Tuyền (suối rượu). Tương truyền rằng chính nơi này hơn 2.000 năm trước, Hoắc Khứ Bệnh khi nhận được rượu vua ban thưởng đã hòa rượu xuống để chia đều cho binh sĩ cùng hưởng lộc vua, theo kiểu “tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Người ta đã dựng một quần thể tượng đài hoành tráng theo hình vòng cung, ôm lấy một bên hồ rộng dẫn nước từ dòng Tửu Tuyền, tái hiện chuyện xưa bằng đá thật ấn tượng.

Nhưng điều làm say lòng du khách chính là nghệ thuật lâm viên, biến di tích lịch sử này thành một công viên tuyệt đẹp. Có cây dương, cây liễu hơn 300 tuổi trầm mặc suy tư. Có một dải tùng xanh thẫm soi rõ xuống hồ sức chịu đựng giữa giá rét. Và những thảm lá vàng của cây quốc hoài trên nền cỏ xanh đang rộn lên tiếng thu theo mỗi bước chân tình nhân chạm lên cỏ lá! Đúng là một bức thư họa làm mềm lòng khách phương xa hơn mọi thứ rượu nào trên đời mà tôi đã gặp.

Lối ra công viên lại là của nghệ thuật kinh doanh, vì dẫn đến một cửa hàng bán một loại ly uống rượu nổi tiếng: “Tửu Tuyền dạ quang bôi”, một sản phẩm thủ công làm từ một loại đá ngọc của Kỳ Liên Sơn. Ly mỏng như giấy, trong như gương, ánh trăng đêm có thể soi vào trong rượu. Dù cô bán hàng cười tươi như hoa, cầm nam châm hút ly để chứng tỏ đá thật, ngọc thật, nhưng nỗi lo hàng giả vẫn canh cánh bên lòng. Vậy mà, trong hành lý của tôi mang về, rốt cuộc cũng có mấy bộ ly này. Vì rằng, sao mà quên được bài Lương Châu từ của Vương Hàn: “Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi…”

Con đường tơ lụa 1

Posted in Con đường tơ lụa with tags on February 13, 2008 by kwojs

Con đường tơ lụa (phần 1)

Chúng tôi lên đường theo nhánh bắc của Con đường tơ lụa. Ảnh: Tuổi Trẻ.

Cuối tháng 10, từ Tây An (Trung Quốc), chúng tôi lên đường theo nhánh bắc của Con đường tơ lụa ngày xưa qua Gia Dụ Quan, Tửu Tuyền tới thành cổ Cao Xương, Hỏa Diệm Sơn đến tận A La Sơn Khẩu – giáp biên giới Kazakhstan (Tân Cương). Chiều dài hơn 8.000 km cho hai lượt đi về.

Chiều Tây An. Chúng tôi chạy đua với thời gian cho kịp trước khi hoàng hôn nhuộm màu. Dãy tượng đài Thương lữ đại đạo dài chừng 40 m, cao hơn 3 m, nằm yên lặng giữa sắc thu vàng trong một công viên nhỏ, bên con đường mang tên Tây An Đại Khánh.

Những cặp tình nhân đang tận hưởng giây phút bên nhau bất ngờ trước những vị khách lạ cứ say sưa quay phim, chụp ảnh. Sắc đỏ của khối sa thạch tượng đài khắc tạc vào không gian cái mạnh mẽ của gió cát sa mạc, với dáng điệu của 12 con lạc đà, hai con ngựa, ba con chó cùng hàng hóa và chủ nhân của chúng – sáu người đàn ông đang tiến về hướng mặt trời lặn.

Trên những nẻo đường chúng tôi qua, có hình ảnh một con người luôn hiện diện. Bạn sẽ thấy tượng đá của ông do người đời nay dựng dưới chân Hắc Sơn, nơi Huyền Bích trường thành của Gia Dụ Quan, hoặc bức bích họa “Xuất sứ Tây Vực đồ” tả cảnh khởi hành đi sứ của ông, có tuổi thọ gần ngàn năm tại hang số 323 của chuỗi hang động Mạc Cao ở thành phố Đôn Hoàng.

Dĩ nhiên, trước ông, bao nhiêu con người vô danh, dũng cảm đã góp sức tạo hình cho hệ thống tuyến đường theo chiều Đông – Tây, nhưng nếu không có ý chí kiên cường của ông vượt qua đói khát sa mạc, lưỡi kiếm Hung Nô, cám dỗ của quyền uy và mười năm bị giam cầm nhằm đặt nền móng chính trị – ngoại giao qua hai lần đi sứ gian khổ để khai thông giao thương cho Tây Vực, thì đã không có Con đường tơ lụa phồn vinh suốt hơn ngàn năm Hán – Đường.

Tượng đài Trương Khiên dưới chân Hắc Sơn, thành phố Gia Dụ Quan (Cam Túc). Ảnh: Tuổi Trẻ.

Sự hiểu biết và thông thuộc Tây Vực của ông trở thành tài sản tạo nên con đường “toàn cầu hóa” đầu tiên của nhân loại cổ đại bằng chân đất. Tên ông vang xa ngoài biên giới, hơn cả uy thế của chúa ông là Hán Vũ Đế. Tư Mã Thiên đã chính thức khắc công lao ông trong sử ký. Dân gian kể chuyện về ông, hư và thực, bằng lời, bằng bích họa trong hang động, bằng thảm tranh treo tường.

Con người đó chính là “Tây Hán Đại hành gia” Trương Khiên một đời lừng lẫy!

Chuyến xe rời thành phố Gia Dụ Quan đến thành phố Đôn Hoàng sôi nổi chương trình “hỏi đáp trực tuyến” với anh Dương Hiểu Lương – hướng dẫn viên du lịch Cam Túc.

Đường Tăng có đến Đôn Hoàng không? Có. Đường Tăng có chứa kinh sách ở hang động Đôn Hoàng không? Không. Kinh sách được đưa thẳng về kinh thành Trường An. Vì sao lúc lên đường Đường Tăng suýt mất mạng khi qua cửa khẩu Ngọc Môn Quan? Vì thời đó, nhà Đường cấm tuyệt người Hán xuất quan sang Tây Vực, Đường Tăng “vượt biên”, thực chất là phạm pháp. Thế còn lúc về? Được Đường Thái Tông đón tiếp như một người anh hùng ngay từ Ngọc Môn Quan đến tận kinh thành Trường An…

Đi theo dấu chân của Đường Tăng trên Con đường tơ lụa, từ Tây An đến Gia Dụ Quan, Ngọc Môn Quan, Hỏa Diệm Sơn, chúng tôi phát hiện “công tội” của nhà văn Ngô Thừa Ân qua Tây du ký.

Công lớn ở chỗ Ngô Thừa Ân khiến nhà nhà, người người đều biết câu chuyện Tây hành cầu pháp của Đường Tam Tạng. Nhưng “tội ác tày đình” là đã biến pháp sư Huyền Trang trở thành một vị hòa thượng hiền lành, tốt bụng nhưng có lúc nhu nhược, ngây thơ, có lúc cố chấp đến mức gây họa. Kỳ thực, ngài là bậc chân tu đại trí, là nhà thám hiểm đại dũng và nhà biên dịch Phạn ngữ đại tài của Phật giáo Trung Hoa.

Buổi sớm khi chúng tôi đến thăm, nơi Nhạn Tháp lộ, phía nam Tây An, gió thu tràn trên khắp quảng trường, gọi mọi ánh nhìn hướng về tượng đài Đường Tăng.

Tượng đài Đường Tăng và tháp Đại Nhạn tại thành phố Tây An (Thiểm Tây). Ảnh: Tuổi Trẻ.

Ngài đang đứng, tay cầm thiền trượng, thân khoác cà sa, mắt nhìn về Tây Trúc uy nghi, mạnh mẽ. Phía sau quảng trường là ngôi chùa nổi tiếng Đại Từ Ân do hoàng gia Đường triều xây dựng, chính là nơi Đường Tăng chủ trì nhiều năm dịch kinh sách tại đây.

Trong chùa có ngôi cổ tháp nổi tiếng: Đại Nhạn tháp bảy tầng, được xây dựng để chứa kinh sách mà Đường Tăng gian khó mang về từ đất Phật Tây phương. Phía sau tháp có Quang Minh Đường chứa xá lợi, tượng thờ và những bức tranh khắc gỗ, khắc đồng hoành tráng tái hiện toàn bộ cuộc đời của ngài.

Ngắm nhìn bản đồ hành trình một đời chí lớn của Đường Tăng khắc gọn trên tấm bảng đồng đặt trong khung kính của một gian Quang Minh Đường, nhà văn Phan Thị Vàng Anh (thành viên trong đoàn) chợt ngộ ra thành lời: Chúng ta thường hay thất hứa với chính mình từ những chuyện nhỏ nhất. Còn những con người như Trương Khiên, Đường Tăng, trước hết là những người tuyệt đối giữ lời, đã hứa là sẽ đi, đã đi là phải đi đến cùng!

Chúng tôi gọi họ là những người “khổng lồ”, tiêu biểu cho sức mạnh phi thường mang tên con người! Và khám phá Con đường tơ lụa cũng chính là hành trình cho mỗi cái tôi nhỏ bé hôm nay khám phá bản thân trong cái vô cùng lớn mà cổ nhân và lịch sử đã tạo tác.

Con đường tơ lụa là tuyến đường giao thương Đông – Tây thời cổ đại, ước hơn 7.000 km. Xuất phát từ Tây An (kinh thành Trường An xưa), qua hành lang Hà Tây (Cam Túc) đến Đôn Hoàng thì chia thành ba nhánh vượt qua Tân Cương.

Nhánh nam đi dọc theo rìa nam sa mạc Taklanakan, nhánh giữa đi theo mạn bắc sa mạc Taklanakan, còn nhánh bắc đi theo hướng bắc dãy Thiên Sơn, qua Urumqi… Sau đó xuyên qua các nước Trung Á, Tây Á đến các quốc gia bên bờ Địa Trung Hải.